Chế độ ăn cho người Đái Tháo Đường

Chế độ ăn là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết trong điều trị bệnh đái tháo đường, song trước nay có nhiều quan niệm sai lầm xung quanh việc khuyến cáo về dinh dưỡng trong chữa bệnh. Bệnh nhân thường ăn uống theo những lời mách bảo của người xung quanh là chủ yếu. Điều đó có căn nguyên từ sự hiểu biết hạn chế về nguyên nhân gây bệnh và phương thức điều trị. Do đó bệnh nhân và người nhà nên tìm hiểu những thông tin khoa học để điều chỉnh chế độ ăn hợp lý mà vẫn đảm bảo đúng sở thích ăn uống của mình..

Chế độ ăn cần được điều chỉnh thích ứng cho từng bệnh nhân riêng biệt, phải thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu sau:

-         Đủ chất: đạm, béo, đường, vitamin, muối khoáng, nước với khối lượng hợp lý.

-         Không làm tăng đường máu nhiều sau khi ăn

-         Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn

-         Duy trì hoạt động thể lực bình thường hàng ngày

-         Duy trì cân nặng ở mức lý tưởng hoặc giảm cân đến mức hợp lý

-         Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, suy thận.

-         Phù hợp tập quán ăn uống của địa dư, dân tộc, của từng bệnh nhân và gia đình

-         Đơn giản và không quá đắt tiền

-         Không nên thay đổi quá nhanh và nhiều cơ cấu cũng như khối lượng của các bữa ăn.
Thành phần bột – đường

Đây là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể. Theo quan niệm trước đây thì các bệnh nhân đái tháo đường phải ăn ít thức ăn này, song nghiên cứu lâm sàng cho bệnh nhân đái tháo đường ăn giàu chất bột – đường (tơí 90% trong thời gian ngắn) không thấy làm tăng đường máu. Do vậy khuyến cáo về thành phần bột – đường trong chế độ ăn không còn hạn chế khắt khe như trước.
Để cung cấp tinh bột, bạn nên ăn các loại ngũ cốc toàn phần có đủ vitamin, chất xơ và muối khoáng. Các loại đường nên được tiêu thụ dưới dạng rau và hoa quả. Thực phẩm giàu chất xơ giúp làm chậm lại quá trình hấp thu đường vào máu, qua đó giữ cho mức đường trong máu không bị tăng đột ngột ngay sau bữa ăn và không bị giảm quá thấp lúc xa bữa ăn, rất có lợi trong kiểm soát đường huyết.

Thành phần chất béo

Tỷ lệ chất béo trong bữa ăn của người Việt Nam vốn không cao ( chỉ chiếm từ 10 – 20% tổng calo tiêu thụ hàng ngày). Khuyến cáo trước đây về tỷ lệ chất béo khoảng 25 – 30% cho người dân Việt Nam là không thực tế vì:

-         Không hợp khẩu vị của đa số người Việt Nam, trong đó có người đái tháo đường

-         Tạo điều kiện để tăng mỡ máu ở người đái tháo đường vốn đã chiếm tới 40%

-         Tạo điều kiện cho béo phì phát triển thêm
Do vậy tỷ lệ chất béo trong khẩu phần người đái tháo đường nên ở trong phạm vi người bình thường (15-20%) là hợp lý. Tỷ lệ này phụ thuộc vào thói quen ăn uống của bệnh nhân và gia đình, tình trạng béo phì, tăng mỡ máu, huyết áp, lượng đường trong máu… Với người có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, lượng chất béo nên hạn chế. Với người gầy và không có yếu tố nguy cơ tim mạch, lượng chất béo có thể tăng lên trên cơ sở bệnh nhân dung nạp được chế độ ăn đó.
Ngoài ra cũng cần cân đối giữa  chất béo nguồn gốc động vật và nguồn gốc thực vật ( nên là 50/50). Việc thay toàn bộ chất béo động vật bằng chất béo thực vật là không cần thiết vì làm giảm vitamin A,D, là những vitamin tan trong mỡ.

Thành phần chất đạm

Tỷ lệ chất đạm chỉ nên chiếm từ 10 – 20% tổng số calo hàng ngày. Chế độ ăn giàu đạm có thể ảnh hưởng đến tổn thương thận do đái tháo đường (chiếm tới 30% bệnh nhân đái tháo đường). Ngoài ra ăn nhiều đạm về lâu dài còn gây chán ăn và chi phí tốn kém. Tuy nhiên chế độ ăn giàu đạm có thể được áp dụng trong thời gian ngắn khi đường máu còn cao. Nếu bệnh nhân bị suy thận thì phải giảm lượng đạm xuống song không được quá thấp để tránh suy dinh dưỡng.

Vitamin và muối khoáng

Các thực phẩm giàu vitamin, đặc biệt vitamin nhóm B (B1, B2, PP) cũng cần có mặt trong khẩu phần ăn, vì chúng giúp ngăn ngừa tạo thành thể cetonic.

Các thử nghiệm đã chứng minh việc sử dụng liều cao các chất chống oxy hóa như vitamin C, vitamin E, beta carotene, selenium không được chứng mình là có tác dụng bảo vệ tim mạch, phòng chống ung thư và đái tháo đường; thậm chí còn gây tác dụng bất lợi. Vì vậy chỉ nên sử dụng nhiều loại vitamin liều thấp trong trường hợp cần thiết ( suy nhược, kém hấp thu…) khi xác định có thể thiếu vitamin.

Tóm lại, chế độ ăn cho người đái tháo đường thực chất cũng là chế độ ăn mẫu mực ngay cả cho người bình thường. Sở dĩ bệnh đái tháo đường hiện nay đang gia tăng với mức độ chóng mặt một phần quan trọng là do chế độ ăn thái quá của những người bình thường. Do vậy, dù bạn là người đái tháo đường hay không thì cũng nên hết sức lưu tâm đến một chế độ ăn khoa học, hợp lý.

Biểu hiện của biến chứng bàn chân do đái tháo đường

BIỂU HIỆN CỦA BIẾN CHỨNG BÀN CHÂN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG NHƯ THẾ NÀO?
Các biến chứng bàn chân do đái tháo đường có thể xảy ra độc lập, nhưng thường là đồng thời . Do đó biểu hiện của bệnh không giống nhau ở các bệnh nhân. Trong đó các tổn thương bàn chân điển hình bao gồm:
Đau bàn chân và chân:  Đau chân có thể liên quan tới bệnh lý thần kinh hoặc tổn hại mạch máu.
Dấu hiệu sớm của tổn thương thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường là sự giảm cảm giác, chủ yếu ở bàn chân nhưng có thể lan lên cẳng chân. Tê bì, cảm giác như kiến bò ở bàn và ngón chân. Đau nóng rát hai bàn chân, nhất là gan bàn chân, đau tăng về đêm khiến bệnh nhân bị mất ngủ. Đau có thể xuất hiện từng đợt hoặc kéo dài, các triệu chứng đau này rất khó điều trị và thường không đáp ứng với các thuốc giảm đau thông thường.

Đau liên quan đến mạch máu xảy ra khi dòng máu không đáp ứng đủ nhu cầu trao đổi chất của cơ bắp hoạt động. Biểu hiện là triệu chứng “đau cách hồi”- đau khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi và cơn đau càng rõ rệt khi đi trên bề mặt nghiêng như sườn đồi, núi.
Biến đổi ngoài da: Bệnh đái tháo đường có thể gây những biến đổi  ngoài da như làm da khô, bong da hoặc nứt nẻ; nguyên nhân là do dây thần kinh điều khiển các hoạt động làm ẩm da đã bị tổn thương.
Chai chân: chai chân hình thành nhiều và nhanh ở bệnh nhân đái tháo đường do tăng áp lực ở gan bàn chân. Các chai chân cũng thường gặp ở người bình thường nên các bệnh nhân thường chủ quan và ít để ý triệu chứng này. Chính vì thế các chai này có điều kiện phát triển nhiều hơn, trở thành nứt, loét và hình thành các ổ nhiễm trùng.
Biến dạng bàn chân: Do biến chứng thần kinh nên bàn chân bị mất cảm giác, khi đứng người bệnh không điều khiển được tư thế bàn chân nên những vị trí chịu áp lực nhiều sẽ có những biến đổi về cơ, da và kéo theo biến đổi về khớp. Hậu quả là bàn chân bị biến dạng và rất dễ bị loét ở những chỗ phải chịu áp lực cao.
 Loét chân: hay xảy ra ở mu bàn chân và ngón cái, và thường do đi giày dép chật. Các vết loét thường bắt đầu là những vết xước hoặc phồng da rất nhỏ nhưng do không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách nên đã bị nhiễm trùng, tiếp sau đó nhiễm trùng lan càng ngày càng rộng ra toàn bộ bàn chân. Đến lúc này thì mọi biện pháp điều trị nội khoa bằng thuốc hoặc cắt lọc đều không hiệu quả. Vì vậy, các bệnh nhân đái tháo đường nên báo cáo ngay cho bác sĩ khi có bất cứ biểu hiện bất thường nào ở bàn chân.
Cắt cụt chân: Khác với người bình thường, các vết loét ở bệnh nhân đái tháo đường rất khó liền vì ít khi được cung cấp đủ máu, vì vậy vùng tổn thương vừa không được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và oxy, vừa không có nhiều các tế bào bạch cầu để tấn công vi khuẩn và dọn dẹp các tế bào chết kịp thời. Mặt khác, đường máu cao lại ức chế hoạt động của bạch cầu, làm giảm hiệu quả của phản ứng viêm chỗng nhiễm khuẩn. Do đó các vết thương rất dễ bị nhiễm trùng lan rộng, dẫn đến phải cắt cụt. Đặc biệt là các đoạn động mạch có thể bị tắc hẹp ở cẳng chân hoặc cao hơn như là đùi nên một số trường hợp tuy chỉ nhiễm trùng bàn chân nhưng lại phải cắt cụt đến trên gối.

 

Cách chọn giầy dép phù hợp cho bệnh nhân đái tháo đường

CÁCH CHỌN GIÀY ĐỂ TRÁNH NGUY CƠ BIẾN CHỨNG BÀN CHÂN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Như các bạn đã biết, đôi chân của bệnh nhân đái tháo đường rất dễ bị tổn thương và khi đã tổn thương thì nguy cơ nhiễm trùng dẫn đến loét, hoại tử rất cao. Do đó bệnh nhân phải có những biện pháp phòng ngừa thích hợp, một trong số đó chính là lựa chọn giày dép phù hợp. Việc này nghe có vẻ đơn giản nhưng nó lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phòng chống biến chứng bàn chân, song trên thực tế không phải bệnh nhân đái tháo đường nào cũng được trang bị đầy đủ kiến thức về cách chọn giày dép.

Điều đầu tiên mà người bệnh đái tháo đường cần nhớ là không được đi chân trần, ngay cả ở trong nhà, vì chỉ một vật rất nhỏ cũng có thể gây tổn thương bàn chân của bạn. Bạn phải có ít nhất hai đôi giày dép để thay đổi thường xuyên, việc thay đổi giày dép sẽ giúp tránh được áp lực lên một vùng nhất định gây biến dạng bàn chân.

Bạn nên mua giày dép vào buổi chiều, là lúc chân to nhất trong ngày. Không được dùng giày cao gót hay dép kẹp vì sẽ làm tăng nguy cơ tổn thương ở gót chân hoặc ngón cái.
Nếu là xăng-đan thì phải đáp ứng những yêu cầu như ở hình sau:
Còn đối với giày thì các yêu cầu bắt buộc là:

-         Mũi giày cứng, rộng và sâu để chứa được các ngón chân một cách thoải mái

-         Cần có miếng lót trong giày vì nó giúp giảm được tới một nửa áp lực lên lòng bàn chân

-         Giày và tất đều phải vừa vặn. Luôn kiểm tra kỹ giày, tất trước khi mang

Bạn nên lưu ý những điều trên khi mua và sử dụng giày dép để bảo vệ đôi chân mình một cách tốt nhất, tránh được những hậu quả đáng tiếc về sau. Hãy rèn luyện cho mình thói quen kiểm tra giày tất và bàn chân hàng ngày ngay từ khi mới phát hiện bệnh tiểu đường. Đôi khi những việc làm tưởng như nhỏ nhoi đơn giản ấy lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao.

Biến chứng bàn chân do đái tháo đường- nguyên nhân do đâu?

BIẾN CHỨNG BÀN CHÂN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG – NGUYÊN NHÂN TỪ ĐÂU?

Các biến chứng bàn chân do đái tháo đường như biến dạng bàn chân, loét bàn chân, hoại tử ngón chân…là nguyên nhân phổ biến nhất trong nhóm nguyên nhân không phải chấn thương gây cắt cụt chân ở các nước phát triển. Theo thống kê, có 5 – 7% bệnh nhân đái tháo đường bị biến chứng loét bàn chân và nguy cơ cắt cụt chân ở bệnh nhân đái tháo đường cao gấp 15 – 46 lần so với người không bị bệnh. Còn tính trên phạm vi toàn thế giới thì cứ 30 giây lại có 1 bệnh nhân đái tháo đường bị cắt cụt chân.

Tại sao các bệnh nhân đái tháo đường lại có nguy cơ cao với biến chứng trên bàn chân như thế? Điều đó đã được giải thích bởi các nguyên nhân sau:

Biến chứng thần kinh: Tổn thương thần kinh có thể xảy ra ở bệnh nhân đái tháo đường typ 1 sau 5 năm hoặc ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ngay tại thời điểm mới chẩn đoán. Tuổi càng lớn, thời gian mắc bệnh càng lâu thì càng tăng nguy cơ biến chứng thần kinh. Sau 25 năm có khoảng 60-70% bệnh nhân đái tháo đường bị biến chứng này. Biến chứng thần kinh do đái tháo đường hiếm khi gây tử vong nhưng lại là thủ phạm chính gây tàn phế và là nguyên nhân hàng đầu gây cắt cụt chân ở các bệnh nhân đái tháo đường.

Biến chứng thần kinh làm giảm khả năng cảm nhận đau đớn, nóng, lạnh; do đó bạn sẽ không thể cảm nhận được bàn chân của mình đã bị tổn thương. Y học gọi đó là hiện tượng “mất cảm giác bảo vệ”. Bạn có thể giẫm lên một cái đinh hay một viên sỏi, hoặc bị trầy xước bàn chân mà vẫn đi cả ngày không hề hay biết, chỉ khi chân sưng to lên hoặc nhiễm trùng nặng bạn mới phát hiện ra và việc điều trị lúc đó là cực kỳ khó khăn.

Biến chứng mạch máu nhỏ: Các bệnh nhân đái tháo đường dễ bị xơ vữa động mạch, các mạch máu bị hẹp hoặc tắc sẽ làm giảm lượng máu đến các cơ quan trong cơ thể. Theo các nghiên cứu, có khoảng 20% bệnh nhân đái tháo đường có hẹp hoặc tắc động mạch ở chân. Hiện tượng kém nuôi dưỡng do máu ít đến sẽ làm hạn chế khả năng điều trị khỏi nhiễm trùng và chữa lành các vết loét. Trường hợp tắc hoàn toàn động mạch có thể làm bàn chân và các ngón chân

Nhiễm trùng: Các bệnh nhân đái tháo đường dễ bị nhiễm trùng hơn người bình thường, lý do là đường máu cao và tuần hoàn máu kém làm cho các phản ứng bảo vệ chống nhiễm trùng ở các bệnh nhân này diễn ra chậm hơn và kém hiệu quả hơn. Đa số các bệnh nhân đái tháo đường ở Việt Nam là những người lao động trực tiếp tại các cánh đồng hoặc nhà máy, họ tiếp xúc với nguồn vi khuẩn rất lớn; vì vậy chỉ cần một vết thương nhỏ cũng có thể gây ra nguy cơ loét và lan rộng ổ nhiễm trùng.

Một số nguyên nhân khác:

Béo phì làm tăng áp lực lên bàn chân.

Giảm thị lực làm bệnh nhân dễ ngã, gây tổn thương bàn chân và khó phát hiện những biến đổi trên bàn chân.

Kiểm soát đường huyết kém, hoặc bệnh thận mắc kèm gây giảm protein nên vết thương khó lành.

Rối loạn mỡ máu gây xơ vữa các động mạch cấp máu cho chân

Đi giày, tất không phù hợp dễ gây tổn thương cho bàn chân.

Cuối cùng, những người có tiền sử bị loét chân hoặc cắt cụt chân thì nguy cơ tiếp tục bị loét chân cũng sẽ tăng lên.

Phân biệt các dạng bàn chân tiểu đường

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh lý khá phổ biến, tỷ lệ trong dân số thay đổi từ 2- 8% tùy theo nghiên cứu. Đây là một bệnh mãn tính, do đó bệnh nhân (BN) ĐTĐ cũng có nguy cơ mắc các bệnh khác như những người bình thường. Thậm chí BN ĐTĐ còn là đối tượng nhạy cảm đối với một số bệnh, trong đó có một số bệnh lý xương khớp, do tính ảnh hưởng trên nhiều cơ quan của bệnh ĐTĐ. Bệnh lý xương khớp phổ biến nhất là “bàn chân tiểu đường”, thường là lý do nhập viện của 5 – 10% bệnh nhân đái tháo đường.

Bàn chân của bệnh nhân tiểu đường có thể gặp biến chứng do hai nguyên nhân chính là biến chứng thần kinh và biến chứng mạch máu. Các nguyên nhân này có thể xảy ra riêng rẽ hoặc kết hợp, gây ra những biểu hiện có phần khác nhau. Cụ thể, bệnh cảnh bàn chân tiểu đường theo Edmonds và Foster – 1996 như sau:

- Tổn thương thần kinh sợi lớn làm co rút gân Achilles và biến dạng duỗi khớp cổ – bàn chân.

- Tổn thương thần kinh sợi nhỏ gây biến dạng ngón chân hình búa (hammer toes).

- Các biến dạng làm gia tăng nguy cơ loét. Vị trí hay loét thường là khớp bàn – đốt, khớp liên đốt và khớp cổ chân, gót chân.

- Lâm sàng: khởi đầu bàn chân có thể viêm tấy nhưng không đau.

- XQuang hoặc CTscanner: có hình ảnh loãng xương; hủy xương hay gãy xương.

 

Bàn chân do thần kinh Bàn chân do mạch máu
                         Biểu hiện                    Biểu hiện
                                      – Ấm                              - Lạnh
                                      – Mạch mu chân bắt được                              - Mạch mu chân không bắt được hay yếu
                                      – Hệ tĩnh mạch lưng bàn chân dãn                              - Teo da
                                      – Da hồng                              - Giơ cao chân→ da trắng bệch
                             - Hạ thấp chân → da tím
                         Hậu quả                   Hậu quả
                                      – Nốt chai                              - Đi cách hồi
                                      – Loét không đau hay đau ít                              - Loét có thể đau nhiều
                                      – Hoại tử đầu chi                              - Hoại tử đầu chi
                                      – Bàn chân Charcot                              - Đau khi nghỉ ngơi
                                      – Phù thần kinh

Trên thực tế các bệnh nhân thường gặp biến chứng bàn chân do cả hai nguyên nhân trên nên những biểu hiện thường đan xen nhau. Ngoài ra còn có một dạng bàn chân đái tháo đường nữa là “bàn chân Charcot” với các đặc điểm sau:

YẾU TỐ THUẬN LỢI GÂY LOÉT BÀN CHÂN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

CÁC YẾU TỐ THUẬN LỢI GÂY LOÉT BÀN CHÂN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Bàn chân của bệnh nhân đái tháo đường rất nhạy cảm với các tác động bên ngoài, dễ bị tổn thương và tiến triển thành loét, dẫn đến hoại tử và cắt cụt chi. Các yếu tố thuận lợi dẫn đến loét chân bao gồm:

-         Sự phân bố trọng lực bất thường và biến dạng bàn chân, chẳng hạn do đi cùng một đôi giày dép quá lâu, đi giày cao gót trong thời gian dài sẽ hình thành các vết chai chân. Khi các vết chai này bị tổn thương hoặc do bệnh nhân dùng dao lấy vết chai không đúng cách sẽ làm chúng bị nhiễm trùng và dẫn đến loét.

-         Tổn thương thần kinh ngoại vi làm giảm cảm giác đau đớn, nóng, lạnh khiến bệnh nhân không biết mình đang bị thương, các vết thương cứ thế phát triển và hình thành loét.

-         Tổn thương mạch máu làm cho chân kém được nuôi dưỡng, sức đề kháng giảm và dễ bị nhiễm trùng.
-         Cuối cùng, bất kỳ chấn thương nào cũng có thể gây nhiễm trùng nếu môi trường quanh bàn chân có nhiều vi khuẩn. Do đó để giảm nguy cơ loét chân, bệnh nhân nên thường xuyên vệ sinh bàn chân và kiểm tra kỹ các vết thương mỗi ngày.

Điều trị nhiễm trùng bàn chân do đái tháo đường

ĐIỀU TRỊ NHIỄM TRÙNG BÀN CHÂN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Chân của bệnh nhân đái tháo đường rất nhạy cảm với nhiễm trùng, chỉ một vết xước nhỏ cũng có thể hình thành loét và hoại tử. Việc điều trị đòi hỏi phải kiên trì và khéo léo để tránh lan rộng ổ nhiễm trùng, dựa trên các nguyên tắc sau:

-         Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời

-         Kiểm soát đường huyết tốt

-         Vùng tổn thương phải được nghỉ ngơi hoàn toàn

-         Cắt rạch và lọc tháo mủ ngay khi có chỉ định và đúng cách

-         Sử dụng kháng sinh thích hợp

-         Thay băng đúng cách hàng ngày

-         Tái hồi lưu thông mạch máu

-         Những công cụ hỗ trợ chân và những giày dép chuyên biệt

-         Giáo dục và tư vẫn cho bệnh nhân khi ở nhà

Việc điều trị bao gồm:

Điều trị bằng thuốc: Regranex gel là thuốc được FDA chấp nhận để điều trị loét bàn chân đái tháo đường, thuốc có chứa yếu tố tăng trưởng giúp mau lành vết thương.

Tránh áp lực lên vết loét chân giúp mau lành vết thương. Đôi khi có thể đặt chân bệnh nhân trên máng bột để giảm áp lực trên chân.

Chăm sóc vết thương: làm sạch vết thương và thay băng thường xuyên để tránh nhiễm trùng

Kháng sinh: kháng sinh thường được sử dụng ngay cả khi chưa có dấu hiệu rõ ràng của sự nhiễm trùng, để ngăn chặn sự lây nhiễm. Thông thường kháng sinh được sử dụng từ 4 – 6 tuần.

Kiểm soát đường huyết: Ổ loét bị nhiễm trùng có thể gây tăng đường huyết. Đường huyết cao lại làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể và chậm lành vết thương. Vì vậy, kiểm soát đường huyết bằng việc điều chỉnh chế độ sinh hoạt, uống thuốc đều đặn sẽ giúp chống nhiễm trùng và mau lành vết thương.

Ghép da: ghép da giúp mau lành vết thương trong trường hợp vết thương lớn và không đáp ứng với điều trị thông thường.

Phẫu thuật: việc cắt lọc nhằm loại bỏ các mô chết xung quanh vết thương là cần thiết để làm sạch và thúc đẩy mau lành vết thương. Phẫu thuật bắc cầu mạch máu qua chỗ tắc để giúp cải thiện lưu lượng máu trong động mạch của chân có thể cải thiện vết thương và tránh cắt cụt chân.

Như là một phương sách cuối cùng, phẫu thuật cắt cụt có thể cần thiết để ngăn chặn sự lây lan của nhiễm trùng với phần còn lại của cơ thể.

Chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường

CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Đái tháo đường là căng nguyên của nhiều bệnh hiểm nghèo trên các cơ quan như tim mạch, võng mạc,  thận…, trong đó nan giải nhất là biến chứng trên bàn chân. Song phần lớn bệnh nhân lại chưa có ý thức chăm sóc bàn chân, nước ta cũng chưa có chuyên khoa bàn chân để khám và điều trị hiệu quả dẫn đến tỷ lệ cắt cụt chân cao. Vì vậy việc theo dõi chăm sóc bàn chân hàng ngày, can thiệp và điều trị kịp thời là yêu cầu rất quan trọng với bệnh nhân đái tháo đường.

Trước hết người bệnh phải thay đổi lối sống giúp kiểm soát tốt đường huyết, huyết áp và cholesterol máu ở mức độ an toàn; tập thể dục hàng ngày và uống thuốc đều đặn. Bỏ các thói quen xấu như uống rượu và hút thuốc lá. Đặc biệt lưu ý chăm sóc bàn chân bao gồm:

-         Kiểm tra bàn chân hàng ngày: nên chọn thời điểm thích hợp trong ngày, thường là buổi tối, và làm điều đó như một thói quen. Chọn nơi đủ ánh sáng để quan sát kỹ bàn chân và các kẽ ngón chân, tìm các vết nứt trên da, vết phỏng rộp, vết thâm, các nốt chai chân và những chỗ đau trên chân. Nếu không thể nhìn rõ bàn chân, bạn hãy dùng đến một tấm gương hoặc nhờ người khác kiểm tra giúp.
-         Vệ sinh chân hàng ngày: cẩn thận rửa sạch chân với nước ấm và xà phòng trung tính, đặc biệt là khoảng kẽ giữa các ngón chân. Không ngâm chân trong nước quá lâu. Trước khi rửa chân hay tắm, phải kiểm tra xem nước có quá nóng hay không. Có thể dùng nhiệt kế, mu tay hoặc khuỷu tay để kiểm tra, nhiệt độ nước không nên quá 37oC. Sau khi rửa, dùng khăn bông mềm thấm khô chân, đặc biệt các kẽ ngón chân. Nếu da khô có thể dùng kem dưỡng da để bôi lên trên mu chân và dưới lòng bàn chân để giữ cho da được ẩm và trơn, nhưng không bôi vào kẽ ngón chân vì độ ẩm rất dễ tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh sôi.
-         Cắt móng chân thường xuyên mỗi tuần hoặc khi thấy dài: nên cắt tỉa móng chân theo đường vòng của ngón. Không để móng dài, không cắt móng quá ngắn và không nên cắt tận vào gốc móng. Nếu có các cục chai, không được tự ý cắt bỏ, cũng không dùng dao cạo, băng dính, dịch lỏng để loại bỏ chúng mà phải tìm đến các cơ sở y tế để được giúp đỡ.
-         Giữ cho mạch máu được lưu thông: hãy đặt chân ở tư thế ngang khi ngồi, không bắt chéo chân trong thời gian dài. Không đi tất chật, đàn hồi, có vòng cao su ở quanh cổ chân. Tập cử động các ngón chân 5 – 10 phút vài lần trong ngày. Các hình thức luyện tập như chạy bộ, bơi lội, đạp xe rất tốt cho việc giúp lưu thông mạch máu ở bàn chân.

-         Lưu ý đến việc lựa chọn giày dép: luôn mang giày dép thích hợp để bảo vệ bàn chân ngay cả lúc đi lại trong nhà và lao động ngoài trời. Kiểm tra trong giày có vật lạ hoặc thủng, rách trước khi mang. Để ý tìm những hõm tì đè của bàn chân lên mặt đế giày dép, vì nó cho biết có vùng tăng áp lực ở bàn chân. Khi trời lạnh chỉ mang tất, không dùng các vật nóng đặt lên chân để ủ ấm vì rất dễ gây bỏng do thần kinh ngoại vi mất cảm giác. Nên mua giày déo vào buổi chiều, trong lòng giày dép nên có miếng lót mềm. Với giày dép mới thì nên đi thử từ từ, mỗi ngày 1 – 2 giờ trong vài tuần đầu để chân được làm quen. Phải luôn giữ giày và tất sạch sẽ để tránh các bệnh về da.

-         Không nên để chân trần tiếp xúc với bề mặt nóng như cát nóng, bề mặt xi măng ngoài trời nắng. Thường xuyên thay giày dép đi trong ngày, nên có nhiều hơn 2 đôi đi trong ngày để chân không bị tì đè ở mãi một vị trí. Tuyệt đối không dùng giày cao gót và các trang sức ở bàn chân.

Hãy bắt đầu ngay bây giờ. Bắt đầu chăm sóc đôi chân của bạn ngay từ  hôm nay để tránh khỏi những hậu quả vô cùng to lớn về sau.

PHÂN BIỆT ĐAU CÁCH HỒI VÀ ĐAU DO NGUYÊN NHÂN KHÁC

PHÂN BIỆT ĐAU CÁCH HỒI VÀ ĐAU DO NGUYÊN NHÂN KHÁC

1. Chứng đau cách hồi
Đau cố định một nhóm cơ, thường là cơ bắp chân, cơ đùi, cơ mông. Khoảng cách xuất hiện cảm giác đau thay đổi tùy thuộc điều kiện địa lý (đường mấp mô) thời tiết (lạnh, gió) sinh lý (sau bữa ăn)
2. Phân biệt các triệu chứng đau